Vitamin có vai trò quan trọng như thế nào với sức khoẻ của chúng ta? Hãy cùng tìm hiểu nhé!

Thuận Yến và đồng sự xin chào tất cả quý khách hàng và thành viên thân yêu!

Trong ly dinh dưỡng Bữa ăn lành mạnhHỗn hợp vitamin và trong một vài sản phẩm khác chúng ta đang dùng hàng ngày có các VITAMIN có tác dụng quan trọng cho sức khoẻ của chúng ta.

Trong bài viết này, Thuận Yến và đồng sự sẽ cung cấp thông tin cho quý khách hàng về tác dụng của các VITAMIN để chúng ta hiểu hơn giá trị của ly dinh dưỡng, hỗn hợp vitamin mà chúng ta đang dùng hàng ngày.

Trong ly dinh dưỡng và trong hỗn hợp vitamin có các loại vitamin sau: A, C, D, E, B1, B2, B3, B5, B6, B7, B9, B12.

Tác dụng của từng loại như sau:

Vitamin A: Vitamin A là loại vitamin tan trong chất béo có rất nhiều tác dụng quan trọng với cơ thể:

  • Giúp tăng trưởng về cân nặng và chiều cao nhờ tác dụng xúc tác tăng chuyển hoá các chất trong cơ thể và biệt hoá tế bào.
  • Bảo vệ cơ thể chống nhiễm trùng nhờ tăng cường hoạt động của hệ thống miễn dịch, nhất là các tế bào bạch cầu (có tác dụng chống mầm bệnhh) cả về số lượng và chất lượng.
  • Nuôi dưỡng và tái tạo lớp biểu mô niêm mạc như trong niêm mạc miệng, mặt trong dạ dày, ruột,… và lớp thượng bì của da, bảo vệ da chống lão hoá.
  • Là một yếu tố phòng vệ chống ung thư nhờ một dạng tiền chất của Vitamin A là Beta-caroten, là chất chống oxy hoá đã được xác định có tác dụng bảo vệ tế bào khỏi sự tấn công của các gốc tự do.
  • Có vai trò rất quan trọng với mắt: Vitamin A là thành phần cấu tạo của chất màu, giúp nhận biết ánh sáng và màu sắc. Vitamin A bảo vệ và nuôi dưỡng giác mạc mắt.

Vitamin C: Là một yếu tố hỗ trợ rất quan trọng trong rất nhiều hoạt động hàng ngày của cơ thể. Nổi bật nhất là:

  • Là chất chống oxy hoá rất mạnh: Vitamin C có thể cung cấp electron rất dễ dàng, có tác dụng trung hoà điện tử của các gốc oxy hoá rất hiệu quả, làm mất tác dụng tàn phá của các gốc oxy hoá đó. Tác dụng này càng cao vì Vitamin C tan trong nước nên có thể hiện diện khắp nơi trong cơ thể như trong máu, dịch ngoài tế bào và trong tế bào, có thể tiếp xúc với các chất oxy hoá ngay khi chúng vừa được tạo thành và trung hoà trước khi chúng kịp gây hại cho tế bào. Do có tác dụng bảo vệ sự nguyên vẹn của tế bào nên Vitamin C được xem là chất dinh dưỡng có tác dụng phòng ngừa lão hoá và các bệnh lý liên quan đến lão hoá hoặc sai lệch di truyền tế bào như bệnh tim mạch, đục thuỷ tinh thể, ung thư,…
  • Tổng hợp collagen: Collagen là một loại protein được cơ thể tổng hợp có nhiệm vụ định hình các cơ quan và giữ cho các tế bào liên kết chặt chẽ với nhau. Chính collagen tạo nên sự đàn hồi của các cơ quan, quan trọng nhất là các bộ phận có sự chuyển động như cơ tim, thành mạch máu, cơ bắp… Collagen được tạo thành chỉ khi có sự hiện diện của chất Sắt (đọc thêm bài TÁC DỤNG CỦA CÁC KHÁNG CHẤT PHỔ BIẾN), và vitamin C bảo vệ sắt khỏi bị oxy hoá để thực hiện việc tổng hợp collagen. Nên nếu thiếu Sắt và vitamin C thì phản ứng này không thể xảy ra.
  • Hỗ trợ hoạt động của các chất khoáng vi lượng khác như sắt, kẽm,… bằng việc bảo vệ các khoáng chất này khỏi bị oxy hoá để tham gia vào các phản ứng sau đó.
  • Chống căng thẳng thần kinh.
  • Tăng đề kháng với các bệnh nhiễm khuẩn hay nấm.

Thiếu vitamin C là nguyên nhân gây ra rất nhiều vấn đề sức khoẻ, đặc biệt khi thiếu dài ngày sẽ có các biểu hiện như xuất huyết nhiều nơi (chảy máu cam, chảy máu chân răng, xuất huyết dưới da, trong mô mềm,..), da khô và lão hoá nhanh, vết thương chậm lành, yếu tất cả các dạng cơ như cơ tim, cơ vân, cơ trơn; xương loãng dễ gãy chậm lành, răng mất mô xương, yếu, rụng răng; rối loạn tâm thần như trầm cảm, căng thẳng, hoang tưởng,…; thiếu máu, dễ nhiễm trùng và xuất huyết.

VITAMIN D: Vitamin D là một thành phần không thể thiếu với sự hấp thu và sử dụng Canxi (Xem thêm TÁC DỤNG CỦA CÁC KHÁNG CHẤT PHỔ BIẾN). Vitamin D giúp duy trì nồng độ Canxi và Phốtpho trong máu ở mức tối ưu, tăng khả năng hấp thu Canxi và Phốtpho ở ruột, tái hấp thu Canxi ở ống thận và giảm mất canxi trong xương.

Nếu thiếu Vitamin D sẽ dẫn đến các hệ quả như còi xương ở trẻ em, chứng nhuyễn xương ở người lớn và loãng xương ở người cao tuổi.

VITAMIN E: Vitamin E là chất dinh dưỡng đầu tiên được nhắc đến với vai trò bảo vệ tế bào, chống lại các gốc tự do. Loại tế bào được Vitamin E bảo vệ nhiều nhất là tế bào hồng cầu, nên nếu thiếu Vitamin E sẽ dẫn đến các tế bào hồng cầu bị phá huỹ nhanh hơn, gây ra bệnh thiếu máu tán huyết.

Vitamin E còn có tác dụng duy trì cấu trúc tế bào nguyên vẹn, làm giảm lỗi cấu trúc trong các đợt sao chép tế bào, vì vậy Vitamin E còn được xem là có tác dụng phòng chống bệnh ung thư.

Vitamin B1 (Thiamine): Rất quan trọng trong quá trình chuyển hoá năng lượng. Ngoài ra còn có vai trò quan trọng trong hoạt động thần kinh, điều khiển cơ bắp. Thiếu Vitamin B1 sẽ dẫn đến tình trạng yếu cơ, phù, chán ăn khó ngủ, một vài biểu hiện về thần kinh như thờ ơ, giảm trí nhớ ngắn hạn, thiếu nặng còn có thể gây suy tim cấp tính.

Vitamin B2 (Riboflavin): Là thành phần của hai loại enzym tham gia vào quá trình chuyển hoá năng lượng. Thiếu có thể có các biểu hiện như viêm da, miệng, niêm mạc đường tiêu hoá, mắt,… nhưng chưa có bệnh lý nào cụ thể có nguyên nhân do thiếu Vitamin B2.

Vitamin B3 (Niacin, Vitamin PP): Có vai trò quan trọng trong việc chuyển hoá các chất bột đường, chất béo, chất cồn thành năng lượng. Thiếu có thể có các biểu hiện viêm da tiếp xúc ánh nắng, viêm lưỡi, nặng có thể nôn ói, đau bụng và các biểu hiện thần kinh như trí nhớ kém, nhức đầu, giảm hoạt động, thờ ơ,….

Tuy nhiên việc cố ý sử dụng quá mức Vitamin B3 gấp 3, 4 lần khuyến nghị hàng ngày sẽ gây độc.

Vitamin B5 (Pantothenic axit): Vitamin B5 tham gia vào hàng trăm phản ứng sinh hoá trong cơ thể để tạo ra chất béo, chất dẫn truyền thần kinh, hócmôn sinh dục và hemoglobine. B5 còn tham gia vào chu trình chuyển hoá năng lượng. Thiếu sẽ gây ra các hiện tượng như mệt mỏi, khó tiêu, rối loạn thần kinh cảm giác,… tuy nhiên hiếm khi thiếu.

Vitamin B6: Có 3 dạng cùng tồn tại và có các tác dụng quan trọng: Tham gia cấu tạo nên các axit amin không thiết yếu của cơ thể. Chuyển hoá chất đạm và urê. Tạo vitamin B3 (Niacin). Tổng hợp DNA và RNA. Tổng hợp muối mật. Tham gia hoạt hoá hệ miễn dịch. Thiếu B6 mức độ vừa đến nặng có thể gây ra các biểu hiện thần kinh như run tay, co giật, lẫn lộn, giảm hưng phấn, viêm da dạng vãy,.. Với lượng lớn 2000mg ngày trong thời gian dài sẽ gây độc như nhức đầu, mê man, yếu liệt cơ.

Vitamin B7,B8, H (Biotin): Biotin giữ vai trò quan trọng trong chuyển hoá năng lượng, tham gia vào phân giải glycogen trong gan và cơ bắp, phân giải và tổng hợp các chuỗi axit amin và axit béo. Thiếu Biotin sẽ dẫn đến vài biểu hiện như nổi ban đỏ ở da, viêm da dạng vãy quanh mũi miệng, rụng tóc, một vài biểu hiện thần kinh như thờ ơ, mệt mỏi, nhức đầu, trầm cảm, tê bì tay chân.

Vitamin B9 (Folic axit, Folate): Tham gia vào thành phần của hai loại enzym có vai trò đặc biệt trong trong việc tổng hợp DNA, vì vậy có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành tế bào. Thiếu Vitamin B9 ở phụ nữ mang thai được xác định là nguyên nhân chính gây ra các dị tật bẩm sinh về thần kinh ở thai nhi như nứt đốt sống ở thai nhi. Ở trẻ em và người lớn, thiếu B9 có thể dẫn đến thiếu máu, suy giảm chức năng của ống tiêu hoá. Thiếu B9 còn làm tăng nguy cơ tạo cục máu đông và tăng tổn thương thành mạch máu, làm tăng nguy cơ đột quỵ. B9 còn được cho là có khả năng phòng ngừa ung thư tuỵ ở nam giới hút thuốc và ung thư vú ở nữ giới uống rượu thường xuyên.

Vitamin B12 (Colabamine): B12 luôn kết hợp với B9 trong quá trình tổng hợp axit amin, DNA, RNA,… B12 còn có tác dụng bảo vệ và hỗ trợ sự tăng trưởng của tế bào thần kinh, hỗ trợ hoạt động tạo xương. Thiếu B12 chủ yếu do hạn chế hấp thu, thường thấy ở nhưng người hấp thu kém, gầy yếu, người thường xuyên dùng thuốc ức chế tiết axit dạ dày, có vấn đề về tiêu hoá,…

Thuận Nguyễn.

Tài liệu tham khảo: Giáo trình Dinh dưỡng học – ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch.


(*) Xem thêm